TRUYỆN
THƠ CỔ TÍCH VIỆT NAM
THÂN GỬI CÁC CHÁU
Đây là tập cổ tích
Đọc khi còn bé thơ,
Bây giờ ông kể lại,
Mà lại kể bằng thơ.
Ngày bé ông thích lắm
Đọc những truyện thế này,
Đơn giản và dễ hiểu,
Quan trọng là rất hay.
Một thế giới kỳ ảo,
Lung linh đủ sắc màu,
Có thần tiên, quỉ dữ,
Có người nghèo, người giàu.
Nó giúp ta phân biệt
Cái cao thượng, cái hèn,
Cái thiện và cái ác,
Kẻ ngu và người hiền.
Ông còn kể nhiều tích
Trong vốn cổ nước nhà,
Như Lưu Bình, Dương Lễ
Hay Tống Tân, Cúc Hoa.
Ngoài ra, ở cuối sách
Có Kiều, Lục Vân Tiên,
Hai tác phẩm thơ lớn
Của hai bậc người hiền.
Các cháu là người Việt,
Không thể không đọc Kiều.
Vậy nhớ đọc đi nhé.
Ông yêu các cháu nhiều.
Ông Tân Béo
Hà Nội, 26, 7. 2012
______________
TRUYỆN THÁNH GIÓNG
Đời Hùng Vương thứ
sáu,
Có hai ông bà già
Sinh sống ở làng
Gióng,
Rất cần cù, thật thà.
Bà lão, sáu hai tuổi,
Một hôm đi chăn bò,
Thấy có vết chân lạ
Vừa sâu lại vừa to.
Bà ướm chân mình thử,
Quá rộng và quá dài.
Không ngờ về, sau đó
Bà thấy mình có thai.
Bà sinh một cậu bé
Đúng mười hai tháng
sau,
Mặt khôi ngô, sáng
sủa,
Nhưng ông bà buồn rầu
Vì khi lên ba tuổi,
Nó vẫn chưa biết đi.
Đặt đâu nó nằm đó,
Nói cũng chẳng biết
gì.
Chợt giặc Ân phương
Bắc
Tràn xuống chiếm nước
ta.
Một hiểm họa to lớn
Cho mọi người, mọi
nhà.
Vua liền cho sứ giả
Tìm nhân tài khắp nơi.
Nghe tin này, bất chợt
Đứa bé nói thành lời:
“Mẹ ra gặp sứ giả,
Mời họ vào nhà mình.”
Sứ giả vào, cậu nói:
“Hãy về xin triều đình
Đúc một con ngựa sắt,
Một bộ giáp thật dày
Cùng một chiếc roi
lớn,
Cho người mang đến
đây.
Ta sẽ đánh tan giặc.”
Sứ giả nghe, ngạc
nhiên,
Về tâu vua, lập tức
Vua liền sai thợ rèn
Rèn ngày đêm không
nghỉ
Làm những thứ cậu cần.
Ngạc nhiên hơn, từ đấy
Cậu bé cứ đòi ăn.
Cậu lớn nhanh như
thổi,
Ăn liền rồi đói liền,
Áo chưa mặc đã chật,
Hàng xóm phải góp
tiền.
Thế nước đang nguy
cấp,
Giặc kéo đến ngút
trời.
Áo giáp sắt mang đến,
Cậu bé mặc vào người.
Cậu vươn vai đứng dậy,
Thành tráng sĩ cao to,
Dáng oai phong lẫm
liệt,
Như một người khổng
lồ.
Chàng nhảy lên lưng
ngựa.
Vỗ mạnh vào hai hông.
Ngựa sắt chồm lên hý,
Miệng phun ra lửa
hồng.
Chàng lao vào quân
giặc.
Xác giặc chết khắp
nơi.
Chúng hoảng hốt bỏ
chạy,
Người dẫm lên xác
người.
Khi roi sắt bị gãy,
Chàng nhổ bụi tre
làng,
Đuổi giặc tận núi Sóc,
Lên đến đỉnh, và chàng
Vẫn ngồi trên lưng
ngựa,
Từ từ bay lên trời,
Để lại lòng thương mến
Trong trái tim mọi
người.
Đất nước hết bóng
giặc,
Cuộc sống lại bình
thường.
Vua, ghi công, phong
tặng
Là Phù Đổng Thiên
Vương.
Hàng năm người làng
Gióng
Mở hội lớn thờ ngài
Vào tháng Tư âm lịch,
Khách đứng chật trong
ngoài.
Vùng này, như ta biết,
Có rất nhiều hồ ao.
Đó là vết chân ngựa
Của Thánh Gióng ngày
nào.
Ở đây có làng Cháy.
Số là xưa ngựa chàng
Phun lửa làm nó cháy,
Sau lại là tên làng.
Dân gian thờ Thánh
Gióng,
Là một trong bốn thần,
Bốn vị thánh bất tử
Sống mãi cùng nhân
dân.
TRUYỆN LẠC LONG QUÂN
VÀ ÂU CƠ
1
Ngày xưa ở vùng đất
Tên gọi là Lĩnh Nam,
Có một vị tù trưởng,
Sức khỏe rất siêu
phàm.
Người ấy còn có hiệu,
Gọi là Kinh Dương
Vương.
Có tài đi dưới nước
Như trên cạn bình
thường.
Một lần nhân rỗi việc
Đi chơi hồ Động Đình,
Ngài gặp nàng Long Nữ,
Con gái vua Thủy Tinh.
Hai người thành chồng
vợ,
Sinh được cậu con
trai,
Tất nhiên là tuấn tú,
Thông minh và có tài.
Sùng Lãm, tên ngày
nhỏ,
Sau thành Lạc Long
Quân,
Ngài tài giỏi như bố,
Phương phi như vị
thần.
Vùng Lĩnh Nam thời ấy
Còn núi rừng hoang vu.
Để hiểu biết dân
chúng,
Ngài thường hay chu
du.
Một lần đến vùng biển
Ngài gặp con Ngư Tinh.
Đó là con cá lớn,
Vây nhọn khắp thân
mình.
Nó dài năm mươi
trượng,
Nhảy cao đến lưng
trời,
Đuôi như cánh buồm
lớn,
Lật thuyền, ăn thịt người.
Lạc Long Quân quyết
định
Phải giết nó giúp dân.
Ngài đóng chiếc thuyền
lớn,
Cho thuyền tiến lại
gần.
Ngài giơ khối sắt đỏ
Nhử trước mặt Ngư
Tinh.
Tưởng miếng mồi, rồi
đớp,
Nuốt luôn vào bụng
mình.
Bị lửa đốt cháy họng
Nó nhảy lên, sáng lòa.
Ngài vung kiếm chém
mạnh,
Chặt thân nó làm ba.
Phần đầu thành con
chó.
Nó liền sủa gâu gâu.
Ngài chém, vứt lên
núi,
Nay là núi Cẩu Đầu.
Phần giữa trôi ra đảo,
Tạo thành đảo Cẩu
Thân.
Đuôi thành Bạch Long
Vĩ,
Hết đời con cá thần.
2
Trừ xong nạn cá dữ,
Ngài đến đất Long
Biên.
Ở đấy có con cáo,
Sống trong hang tối
đen.
Nó hơn nghìn năm tuổi,
Tu lâu ngày thành
tinh,
Thường bắt con gái đẹp
Đưa về hang của mình.
Mọi người rất lo sợ,
Tìm nơi khác làm ăn.
Ngài thề sẽ giết nó
Để cứu giúp người dân.
Ngài tìm đến hàng cáo
Ở phía tây Long Biên.
Thấy có người, đang
đói,
Con cáo nhảy ra liền.
Ngài đánh nhau với nó
Suốt ba đêm, ba ngày,
Hóa phép gọi mưa gió,
Đất trời mù mịt mây.
Cuối cùng nó kiệt sức,
Bị ngài chém làm đôi,
Hiện hình là con cáo
Có những chín chiếc
đuôi.
Sau đó, nước sông Cái
Được ngài dâng lên to,
Xoáy thành đầm Xác
Cáo,
Nay gọi là Tây Hồ.
Dân xung quanh thấy
vậy,
Bèn quay lại nơi này,
Lập làng Hồ trù phú,
Tồn tại đến ngày nay.
3
Ngài đi lên mạn ngược
Tới vùng đất Phong
Châu.
Có một cây đại thụ
Mọc tít trong rừng
sâu.
Nó cao hàng nghìn
trượng,
Cành lá rất xum xuê,
Che cả một vùng rộng,
Dây leo mọc bốn bề.
Về sau cây này chết,
Hồn hóa thành Mộc
Tinh.
Nó hung ác, quỉ quyệt,
Luôn thay dạng, đổi
hình.
Chuyên bắt người ăn
thịt,
Nó là nỗi kinh hoàng
Của người dân sở tại.
Họ phải bỏ xóm làng.
Thương dân tình khốn
khổ,
Lần nữa ngài ra tay.
Ngài tìm mãi mới thấy
Chỗ ở yêu tinh này.
Ngài giao chiến với nó
Đúng một trăm ngày
đêm,
Làm đất sụt từng mảng,
Làm đá cứng thành mềm.
Cuối cùng, nó kiệt sức
Ngã xuống khe núi sâu,
Miệng phun toàn khí
độc,
Rồi bị ngài chém đầu.
Thấy người dân đói
khổ,
Ăn củ mài, lá bương,
Lấy vỏ cây làm khố,
Nằm ổ cỏ thay giường,
Ngài dạy họ trồng lúa,
Thổi cơm bằng ống tre,
Làm nhà sàn để ở,
Đội nón mũ ngày hè.
Ngài còn dạy họ sống
Từng cặp theo vợ
chồng,
Có gia đình con cái,
Dạy cả làm chiêng
đồng.
Nhân dân ghi công ấy
Dựng cho ngài ngôi nhà
Rất cao trên đỉnh núi,
Có đủ hết lợn gà.
Nhưng ngài ít ở đấy,
Mà về với Thủy Tề.
Ngài dặn, cần giúp đỡ,
Gọi ta, ta sẽ về.”
4
Lúc ấy vua phương Bắc
Là Đế Lai, ông này
Thấy Lĩnh Nam đất tốt,
Cho quân tràn xuống
đây.
Đi theo ông còn có
Con gái là Âu Cơ
Cùng rất nhiều thị nữ,
Như bầy tiên trong mơ.
Ông cho xây thành lũy,
Có ý ở lâu dài
Bắt dân phải phục dịch
Khổ cực, chẳng chừa
ai.
Hướng phía Đông, dân
gọi:
“Bố Lạc Long Quân đâu,
Chúng con đang gặp
nạn,
Về giúp chúng con
mau!”
Lập tức, ngài xuất
hiện.
Biến thành một chàng
trai.
Cùng hàng trăm đầy tớ,
Ngài đến chỗ Đế Lai.
Ngài không thấy ông
ấy,
Chỉ thấy nàng Âu Cơ,
Một cô gái tuyệt đẹp,
Đẹp nhất thời bấy giờ.
Thấy ngài rất tuấn tú,
Con gái vua Đế Lai,
Liền đem lòng yêu mến
Và xin được theo ngài.
Lạc Long Quân lập tức
Đưa nàng về nhà mình.
Ngôi nhà trên núi Tản,
Nơi bốn mùa tươi xanh.
Vua Đế Lai quay lại,
Không thấy con gái
đâu,
Liền cho lính lùng
sục,
Khắp nơi và rất lâu.
Lạc Long Quân sai
khiến
Dã thú chặn bốn bề.
Thấy nhiều lính bị
giết,
Đế Lai rút quân về.
5
Một thời gian sau đó
Nàng Âu Cơ có thai,
Đẻ ra trăm quả trứng,
Thành trăm người con
trai.
Khi chui ra khỏi
trứng,
Họ lớn nhanh từng
ngày,
Những chàng trai xinh
đẹp,
Thông minh và có tài.
Suốt mười năm hạnh
phúc
Ngài sống bên Âu Cơ
Cùng trăm người con
ấy,
Nhưng mỗi ngày, mỗi
giờ
Nỗi nhớ về biển cả
Vẫn canh cánh bên
lòng.
Một hôm, từ biệt vợ,
Ngài hóa thành con
rồng
Rồi bay lên, mất hút
Nơi sóng biển màu
xanh,
Tiếc không mang theo
được
Vợ và con trai mình.
Họ ở lại trên núi,
Ngày lại ngày chờ mong.
Cuối cùng, quay hướng
biển,
Nàng Âu Cơ gọi chồng:
“Thiếp và con buồn
khổ,
Hỡi chàng Lạc Long
Quân.
Hãy quay về với thiếp,
Để vợ chồng được gần.”
Ngài về ngay lập tức.
Nàng Âu Cơ trách
chồng:
“Thiếp vốn sinh trên
núi,
Giữa rừng cây mênh
mông,
Thiếp và chàng đã có
Những một trăm người
con,
Sao chàng nỡ để thiếp
Sống một mình, đau
buồn?”
“Ta giống rồng, - ngài
nói. -
Còn nàng là giống
tiên.
Khó bên nhau mãi mãi,
Nơi biển, nơi đất
liền.
Vậy ta đi hai ngả,
Chia đôi con, vui
mừng,
Năm mươi con xuống biển,
Năm mươi con lên rừng.
Có việc, cần hợp sức,
Ta sẽ báo cho nhau.”
Rồi hai người từ biệt,
Quyến luyến giọt lệ
sầu.
Trăm con trai của họ
Từ đó thành tổ tiên
Của giống người Bách
Việt,
Vừa cần cù vừa hiền.
Người con trưởng ở lại
Đất Phong Châu mỡ
màng,
Rồi sinh con đẻ cái,
Lập nên nước Văn Lang.
Nước có mười lăm bộ,
Có lạc tướng, lạc hầu,
Các vua Hùng kế tục
Cai trị đất Phong
Châu.
Lạc Long Quân mở cõi
Lĩnh Nam, đất thiêng
này.
Giúp dân trừ quái vật,
Dạy săn bắn, cấy cày.
Dựng nước và giữ nước,
Mười tám đời vua Hùng,
Lập thuần phong mỹ
tục,
Danh giá cả một vùng.
Do truyền thuyết Âu
Lạc
Mà dân Việt mọi miền
Nhận mình là con cháu
Của hai bậc Rồng Tiên.
SỰ TÍCH BÁNH CHƯNG,
BÁNH DÀY
Đời Hùng Vương thứ sáu,
Khi giặc Ân không còn,
Vua có ý thoái vị,
Muốn nhường ngôi cho
con.
Vua gọi các hoàng tử,
Nhân năm mới, đầu
xuân:
“Các con tìm lễ vật
Cùng nước uống, thức
ăn
Làm sao thật ý nghĩa
Để thờ cúng đất trời,
Cúng thần linh, tiên
tổ,
Đẹp dáng, đẹp lòng
người.
Cuộc thi này đặc biệt,
Phần thắng thuộc về ai
Ta sẽ cho người ấy
Được thừa kế vương
ngai.”
Các hoàng tử háo hức
Lên đường đi gần xa,
Tìm của ngon vật lạ,
Mong nối ngôi vua cha.
Con trai thứ mười tám,
Có tên là Lang Liêu,
Vốn hiền hậu, hiếu
thảo,
Đáng khen đủ mọi điều.
Mẹ không may chết sớm,
Việc thờ cúng tổ tiên
Chàng còn chưa được
dạy,
Nên lo lắng, buồn
phiên.
Một đêm, thần báo
mộng:
“Suy cho cùng, ở đời
Không gì quí bằng gạo.
Gạo nuôi sống con
người.
Vậy con lấy gạo nếp
Làm bánh vuông, bánh
tròn.
Vuông tượng trưng cho
đất.
Tròn là bầu trời con.
Trong bánh có nhân
thịt,
Ngoài gói bằng lá
xanh,
Để ghi sâu ơn nặng
Công cha mẹ sinh
thành.”
Chàng Lang Liêu tỉnh
dậy
Nhớ lời thần, rất
mừng,
Làm bánh vuông, luộc
chín,
Đặt tên là bánh chưng.
Chàng đồ xôi, giã mịn,
Rồi ngồi vắt bằng tay
Những bánh tròn bọc
lá,
Gọi đó là bánh dầy.
Đúng hẹn, các hoàng tử
Mang đến trình vua cha
Nhiều món ăn ngon lạ
Của các miền gần xa.
Còn Lang Liêu, khiêm
tốn,
Dâng bánh chưng, bánh
dầy.
Chàng nói rõ ý nghĩa
Của các loại bánh này.
Vua đích thân nếm thử
Thấy rất ngon, và rồi
Chàng là người được
chọn
Để vua cha truyền
ngôi.
Từ đó, Tết Nguyên Đán
Người dân khắp mọi
miền
Làm hai loại bánh ấy
Cúng đất trời, tổ
tiên.
MỴ CHÂU, TRỌNG THỦY
1
Xưa, ở nước Âu Lạc,
Vua là An Dương Vương
Muốn xây thành giữ
nước.
Một việc rất bình
thường.
Thành ấy hình xoắn ốc
Ở kinh đô Cổ Loa,
Phải cao và phải rộng,
Cấu trúc phải hài hòa.
Vua và dân xây mãi,
Thế mà không hiểu sao
Cứ ngày xây, đêm đổ,
Chẳng ai hiểu thế nào.
Vua lập đàn cầu tế,
Thần Kim Qui giúp ngài
Xây xong thành lũy ấy,
Vững chắc cả trong
ngoài.
Xong, Kim Qui còn lấy
Một chiếc móng của
mình
Đưa cho vua và nói
Nó sẽ giúp giữ thành.
“Dùng nó làm lẫy nỏ,
Sẽ là chiếc nỏ thần,
Bắn trăm phát trăm
trúng,
Một lúc giết nghìn
quân.”
Vua liền sai Cao Lỗ,
Một người thợ thông
minh,
Làm cho vua nỏ ấy,
Rồi luôn giữ bên mình.
Đó là chiếc nỏ đẹp
Và rất cứng, muốn
dương,
Phải là tay lực sĩ
Có sức mạnh phi
thường.
Nước Nam Hải phía Bắc,
Đánh Âu Lạc nhiều lần
Nhưng luôn chịu thất
bại
Vì gặp phải nỏ thần.
Nên ông vua nước ấy,
Có tên là Triệu Đà,
Bèn toan tính kế khác
-
Cho con sang giảng
hòa.
Đó là chàng Trọng
Thủy,
Đúng một đấng mày râu,
Cha bắt sang Âu Lạc
Để cầu hôn Mỵ Châu.
Mỵ Châu là con gái
Của vua An Dương
Vương,
Một công chúa trong
trắng,
Lại xinh đẹp khác
thường.
Vì thơ ngây, trong
trắng,
Và cả tin, nên nàng
Đem lòng yêu Trọng
Thủy,
Không biết mưu cha
chàng.
Về phần mình, Trọng
Thủy
Cũng yêu nàng thiết
tha,
Tình yêu cũng trong
trắng,
Bất chấp ý đồ cha.
Thấy Mỵ Châu, Trọng
Thủy
Yêu thương nhau thực
lòng,
An Dương Vương đồng ý
Cho họ thành vợ chồng.
Một đêm trăng tuyệt
đẹp,
Hai người ngồi trước
thềm.
Nước dưới hồ lấp lánh
Nghìn vạn ánh sao đêm.
Rồi như thể nhân tiện,
Trọng Thủy hỏi vợ mình
Bí quyết nước Âu Lạc
Giữ vững được Loa
Thành.
Nghĩ đã là chồng vợ,
Không giấu diếm điều
gì
Mỵ Châu liền kể chuyện
Chiếc nỏ thần Kim Qui.
Hơn thế, nàng lấy trộm
Chiếc nỏ từ phòng cha,
Hướng dẫn cách sử
dụng,
Tỉ mỉ và thật thà.
Ngày hôm sau Trọng
Thủy
Xin phép được lên
đường
Quay trở về Nam Hải
Để dự lễ Trùng Dương.
Trước khi đi, lưu luyến,
Chàng nói với Mỵ Châu:
“Sự đời khó biết
trước,
Lần này ta xa nhau,
Nhỡ can qua, ly biệt,
Khó biết đâu mà tìm.”
Mỵ Châu nói: “Nhà
thiếp
Có chiếc áo lông chim.
Nếu không may loạn
lạc,
Phải chịu cảnh tha
hương,
Thiếp nhổ lông chiếc
áo
Rồi bỏ lại dọc đường.
Theo đó mà tìm thiếp
Một khi chàng quay về.
Nói đoạn, nàng liền
khóc,
Nước mắt chảy dầm dề.
Lại nói chàng Trọng
Thủy
Về nước gặp Triệu Đà,
Kể hết về chiếc nỏ
Rồi đưa cho vua cha
Chiếc lẫy thần, chiếc
móng
Của thần Rùa Kim Qui.
Chàng đã lấy trộm được
Mà không ai biết gì.
Mấy tháng sau, Nam Hải
Với chiếc lẫy trong
tay,
Cho quân đánh Âu Lạc,
Chắc thắng lợi lần
này.
Được tin giặc lại đến
Vua Việt, An Dương
Vương,
Cậy nỏ thần vô địch,
Vẫn bình tâm như
thường.
Nhưng khi đem nỏ bắn
Thì thấy mất lẫy thần,
Thành Cổ Loa Thất thủ,
Vua phải trốn, thoát
thân.
Chỉ một mình một ngựa,
Người ngựa phóng như
bay,
Sau lưng là con gái,
Liên tục suốt mấy
ngày.
Nàng Mỵ Châu lấy áo,
Nhổ lông rắc dọc
đường.
Cuối cùng đến dãy núi,
Đêm vừa buông, mù
sương.
Ngọn núi ấy gần biển,
Phía trước không đường
đi.
Sau lưng giặc đang
đuổi.
Vua không biết làm gì.
Ngài xuống ngựa, cầu
khấn
Thần Kim Qui giúp
mình.
Khấn xong, trời nổi
gió
Và mặt biển rùng mình.
Thần Kim Qui xuất
hiện:
“Giặc đang ngồi phía
sau!”
Vua Âu Lạc chợt hiểu,
Liền chém con đứt đầu.
Rồi ngài ôm con khóc,
Leo lên tảng đá cao,
Nhảy xuống biển tự tử.
Biển nổi sóng dâng
trào.
Nhớ lời vợ, Trọng Thủy
Liền lên đường đi tìm.
Chàng cứ đi, đi mãi,
Lần theo vết lông
chim.
Khi đến núi Mộ Dạ,
Chàng tìm thấy Mỵ
Châu,
Người vợ chàng yêu
quí,
Chết, mà không có đầu.
Chàng ôm vợ than khóc,
Day dứt và chân thành.
Rồi vội vàng lên ngựa
Đem vợ về kinh thành.
Chàng làm lễ mai táng
Theo nghi thức vương
gia,
Rồi gieo đầu xuống
giếng
Chết trong thành Cổ
Loa.
Chiếc giếng ấy, được biết,
Đã trải qua nhiều đời.
Nghe nói lấy nước
giếng
Rửa ngọc, ngọc sáng
ngời.
2
Một chuyện tình thật
đẹp,
Chân thành và trắng
trong.
Mỵ Châu và Trọng Thủy
Đã yêu nhau thật lòng.
Hai người không có lỗi
Với những gì xẩy ra.
Người có lỗi duy nhất
Là ông vua Triệu Đà.
Vì mưu toan chính trị,
Ông giết con trai
mình,
Giết luôn cả hạnh phúc
Trong trắng một mối
tình.
Nàng Mỵ Châu tội
nghiệp
Và cả An Dương Vương
Đều chết vì mắc bẫy
Một mưu mô tầm thường.
Âu chỉ còn biết tiếc
Xót thương cho ba
người.
Âu cũng là bài học
Về cảnh giác ở đời.
Ngọn núi ấy, Mộ Dạ,
Nơi đức vua quyên
sinh,
Cách chưa đầy cây số
Là làng tôi, Xuân
Tình.
Ngày nhỏ cùng lũ trẻ
Đi chăn trâu hàng
ngày,
Tôi leo trèo, nghịch
ngợm
Trong đền thờ ở đây.
Đền thờ trên mõm núi,
Giữa rừng thông xanh
rì.
Tất nhiên có Giếng
Ngọc,
Có cả thần Kim Qui.
Giờ đầu hai thứ tóc,
Nhưng mỗi lần về quê,
Tôi vẫn leo lên viếng,
Dẫu khó nhọc, nặng nề.
Còn người thợ Cao Lỗ
Sau cũng chạy về đây
Mang theo nghề rèn đúc
Cho người dân nơi này.
Giờ ngài được thờ cúng
Như thành hoàng Nho
Lâm,
Người đã mang cơm áo
Cho làng nhiều, nhiều
năm.
Thắp hương vái các vị,
Tự nhiên thấy buồn
rầu,
Như chạm vào quá khứ,
Một quá khứ buồn đau.
TRUYỆN SƠN TINH, THỦY
TINH
Vua Hùng thứ mười tám,
Có con là Mỵ Nương,
Một công chúa xinh đẹp
Thông minh và dễ
thương.
Nàng được cha yêu quí,
Cũng vừa tuần cập kê,
Vua muốn chọn phò mã,
Phải nổi bật nhiều bề.
Bỗng một hôm có báo
Hai chàng trai từ xa
Đến cầu hôn công chúa,
Xin được gặp vua cha.
Cả hai đều tuấn tú
Và khôi ngô lạ thường,
Rất đáng làm phò mã,
Chồng công chúa Mỵ
Nương.
Một chàng từ vùng núi,
Phía Tam Đảo, Ba Vì.
Hô một tiếng - núi
mọc.
Tiếng nữa - lúa xanh
rì.
Chàng kia từ phía
biển,
Không kém phần giỏi
giang,
Biết hô phong hoán vũ,
Lấy nước tưới mùa
màng.
Sơn Tinh là chàng trước,
Thủy Tinh là chàng
sau.
Cả hai người lịch sự
Và tài giỏi như nhau.
Vua Hùng rất bối rối,
Không biết chọn người
nào.
Hỏi quan, quan cũng
chịu.
Giờ biết tính làm sao?
Cuối cùng, vua bèn
nói:
“Ta vừa ý cả hai.
Khốn nỗi, con chỉ một,
Và không biết chọn ai.
Vậy ngày mai hãy đến,
Mang nhiều lễ và quà.
Ai mang lễ đến trước
Sẽ là chồng con ta.
Lễ - trăm ván cơm nếp
Trăm cặp bánh chưng
dày,
Mười con gà chín cựa,
Chín con ngựa biết
bay.”
Sáng hôm sau, rất sớm,
Sơn Tinh đến dâng quà,
Được đón dâu về núi,
Rất đẹp lòng vua cha.
Còn Thủy Tinh khi đến,
Với lễ vật khác
thường,
Nhưng quá muộn, tức
giận,
Chàng quyết giành Mỵ
Nương.
Chàng hô mưa, gọi gió,
Cây cối đổ rào rào,
Nước sông dâng cuồn
cuộn,
Ngập ruộng đồng, hồ
ao.
Sơn Tinh không nao
núng.
Chàng bốc đá chặn
dòng,
Nâng núi cao lên mãi,
Rồi dốc suối, nghiêng
sông.
Họ đánh nhau ròng rã
Mấy tháng dài lê thê,
Cuối cùng, Thủy Tinh
yếu,
Đành phải rút quân về.
Oán mỗi lúc một nặng,
Thù càng ngày càng
sâu,
Từ đó, họ thành lệ
Năm nào cũng đánh
nhau.
Thế là mưa, là bão,
Gây thiệt hại mùa
màng.
Chỉ người dân là khổ.
Có biết chăng, hai
chàng?
SỰ TÍCH ÔNG CÔNG, ÔNG
TÁO
1
Xưa có vợ chồng nọ,
Rất hợp ý, hợp lòng.
Thị Nhi là tên vợ,
Trọng Cao là tên
chồng.
Sống với nhau hòa
thuận,
Hiềm nỗi không có con.
Nhà cửa luôn vắng vẻ,
Vợ và chồng đều buồn.
Cũng vì lý do ấy
Đôi lúc họ cãi nhau,
Gia đình cứ lục đục
Vì những chuyện không
đâu.
Một lần, do quá chén,
Trọng Cao đánh Thị
Nhi.
Nàng giận chồng, uất
ức,
Rồi bỏ nhà ra đi.
Nơi quê người đất
khách,
Nàng gặp người đàn ông,
Tên Phạm Lang, sau đó
Hai người thành vợ
chồng.
Còn Trọng Cao hối hận,
Bán hết cửa hết nhà,
Quyết tâm đi tìm vợ,
Không quản ngại đường
xa.
Chàng tìm mãi không
thấy,
Mà tiền thì hết dần,
Cuối cùng cực chẳng
đã,
Đành ngửa tay xin ăn.
Lần nọ, sắp chết đói,
Chàng gõ cửa một nhà,
Đứng lặng người khi
thấy
Nàng Thị Nhi đi ra.
Rồi mừng mừng, tủi,
Ôm nhau khóc hồi lâu.
Họ nói về chuyện cũ,
Chuyện từ ngày xa
nhau.
Bỗng Phạm Lang, chồng
thị,
Quay về bất thình
lình,
Thấy thế liền ngờ vực
Hai người có tư tình.
Chàng lớn tiếng trách
mắng,
Không cho vợ giải bày.
Nàng nhảy vào bếp lửa
Để chứng tỏ lòng ngay.
Phạm Lang thấy, hốt
hoảng,
Liền nhảy vào cứu
nàng.
Hai người bị chết cháy
Trong ngọn lửa màu
vàng.
Thấy mình gây nên tội,
Lòng day dứt, Trọng
Cao
Không nỡ nhìn họ chết,
Cũng liều mình nhảy
vào.
Cả ba người khi chết
Tay còn nắm tay nhau.
Rồi họ hóa thành đá,
Thành ba ông đầu rau.
2
Một chồng chỉ một vợ,
Chuyện bình thường mỗi
nhà.
Nhưng nhà Táo thì khác
-
Giờ hai ông một bà.
Ngọc Hoàng thương xót
họ,
Những con người có
tình,
Phong họ thành Vua
Bếp,
Còn cho lên Thiên
Đình.
Họ trở thành các Táo.
Phạm Lang là Thổ Công,
Trọng Cao là Thổ Địa,
Vậy là đủ hai ông.
Còn một bà của họ
Là vợ chung, Thị Phi,
Vì giỏi chuyện cơm
nước,
Được phong làm Thổ Kỳ.
Từ đấy dân nước Việt
Thờ Táo Công khắp nơi.
Ngày hăm ba tháng Chạp
Các Táo bay lên trời.
Người ta mua cá chép
Để họ cưỡi bay lên.
Đủ áo quần, mũ dép,
Còn được hối lộ tiền.
Chả là họ phải báo
Cho Ngọc Hoàng mọi
điều
Nơi trần gian hạ thế.
Một phong tục đáng
yêu.
SỰ TÍCH TRẦU CAU
Ngày xưa ở làng nọ,
Hai anh em họ Cao
Rất giống nhau, khó
biết
Người nào là người
nào.
Năm tròn mười tám
tuổi,
Cha mẹ họ qua đời.
Trước thương yêu nhau
lắm,
Nay yêu thương gấp
mười.
Lưu Ông là đạo sĩ
Rất nổi tiếng trong làng.
Hai người đến tìm học.
Ông cũng yêu hai
chàng.
Nhà có cô con gái
Vừa đến tuổi cập kê,
Nết na và xinh đẹp,
Thêm sắc sảo nhiều bề.
Vì hai người học giỏi,
Cũng tuấn tú, khôi
ngô,
Nên một người trong họ
Đã lọt vào mắt cô.
Khốn nỗi, vì giống
quá,
Nhiều khi cô thở dài,
Vì chính mình không
thể
Phân biệt ai là ai.
Một hôm cô muốn thử,
Liền đặt bát cháo
hành.
Họ nhường ai ăn trước,
Chắc chắn đó là anh.
Rồi Lưu Ông làm lễ
Cho cô và người này.
Có điều sau khi cưới,
Mọi việc khác xưa nay.
Người anh, vì có vợ,
Dường như quên mất em.
Anh kia, do tủi phận,
Thường nằm khóc trong
đêm.
Người em, một ngày nọ,
Quay về từ cánh đồng.
Chị dâu ở trong bếp
Chạy ra, tưởng là
chồng,
Liền ôm hôn, nũng nịu,
Vừa đúng lúc người anh
Xuất hiện ngay trước
cửa.
Đúng là việc chẳng
lành.
Anh ta nghĩ: Thật láo,
Thằng em tán vợ mình.
Nên tình đã vốn nhạt,
Nay càng thêm cạn
tình.
Người em thấy oan ức,
Bèn bỏ nhà ra đi.
Đi, đi mãi, đi mãi,
Tới dòng suối rầm rì.
Suối thì rộng, nước
xiết,
Không thể qua, đành
ngồi,
Khóc đến cạn nước mắt,
Chết, thành hòn đá
vôi.
Lại nói người anh cả,
Về nhà không thấy em,
Ngày hôm sau, giấu vợ,
Lặng lẽ bỏ đi tìm.
Anh cũng đi đường ấy,
Gặp suối, không thể
qua,
Bèn ngồi bên hòn đá,
Rồi khóc, lệ ướt nhòa.
Anh khóc mãi, khóc
mãi,
Chết, thành một cây cao,
Thân rất thẳng, nhưng
lá
Không có một cành nào.
Vợ ở nhà lo lắng,
Không biết chồng đi
đâu,
Bèn lên đường tìm
kiếm,
Đi rất lâu, rất lâu.
Cuối cùng đến con
suối,
Cô ngồi khóc não lòng,
Không biết ngay bên
cạnh
Là chồng và em chồng.
Cô khóc hết nước mắt,
Người cô cứ gầy teo,
Rồi cô chết, lặng lẽ
Biến thành một dây
leo.
Dây leo ấy quấn quít
Ôm quanh cây cao kia.
Bên dưới là tảng đá,
Bộ ba không chia lìa.
Khi mọi người biết
chuyện,
Tỏ lòng thương xót
thay.
Một lần vua kinh lý,
Dừng kiệu ở nơi này.
Sau khi nghe hết
chuyện,
Vua bèn lấy trái cây,
Nhai với lá dây cuộn,
Thấy có vị cay cay.
Vua nhổ vào tảng đá,
Thấy mặt đá sùi sôi,
Rồi ngả dần màu đỏ.
Đó là hòn đá vôi.
Cái cây cao cao ấy
Vua gọi là cây cau.
Dây lá leo quanh nó
Thì đặt tên lá trầu.
Còn tảng đá, nung
chín,
Sẽ có màu trắng tinh,
Nhai với trầu, cau ấy,
Môi đỏ, trông rất
xinh.
Từ đấy dân nước Việt
Có tục lệ ăn trầu
Để nhớ ba người chết
Còn gắn bó bên nhau.
TRUYỆN TRƯƠNG CHI, MỴ
NƯƠNG
Nghe bà tôi kể lại,
Thì chuyện là thế này:
Xưa có anh chài lưới,
Xấu người nhưng hát
hay.
Thậm chí người cực
xấu,
Mà giọng thì mê ly.
Thế mới lạ, người ấy
Có tên là Trương Chi.
Suốt ngày, vừa đánh
cá,
Chàng vừa hát một
mình.
Giọng du dương, trầm
bổng,
Chan chứa biết bao
tình.
Tiếng hát chàng day
dứt
Như ai oán điều gì,
Nghe mà thương, thương
lắm,
Thương cho chàng
Trương Chi.
Có một nàng xinh đẹp,
Tên cũng đẹp - Mỵ
Nương,
Con một người giàu có,
Nhưng cũng loại thường
thường.
Hàng ngày ngồi hóng
mát
Dưới mái lầu bên sông,
Nàng nghe Trương Chi
hát,
Mà xao xuyến trong
lòng.
Cứ thế nàng nghe mãi,
Rồi thành quen, thành
yêu,
Yêu cái con người ấy,
Xao xuyến vạt nắng
chiều.
Sau đó, bà tôi kể,
Nàng ốm, nằm liệt
giường
Vì Trương Chi ngừng
hát.
Tội nghiệp nàng Mỵ
Nương.
Vốn sẵn tiền, ông bố
Cho mời nhiều thầy
lang,
Thế mà không chữa được
Cái bệnh ấy của nàng.
Cuối cùng, ông bố biết
Chuyện anh chài trên
sông,
Chuyện cô con gái rượu
Nghe anh hát, phải
lòng.
Ông mời Trương Chi đến
Chữa bệnh cho Mỵ
Nương,
Thấy chàng, ông thất
vọng,
Vì chàng xấu dị
thường.
Ông bắt chàng đứng hát
Rất xa từ ngoài thềm,
Vì sợ con gái thấy
Bệnh tình sẽ tăng
thêm.
Vừa mới nghe chàng
hát,
Bệnh Mỵ Nương khỏi
liền.
Như thể không hề bệnh,
Như vừa uống thuốc
tiên.
Và rồi nàng nằng nặc,
Bắt cha dẫn chàng vào.
Thấy chàng, nàng suýt
ngất
Vì chàng xấu, xấu sao!
Nàng Mỵ Nương thất
vọng,
Liền đuổi chàng đi
ngay.
Chỉ vì xấu, nàng thấy
Tiếng hát không còn
hay.
Kể đến đây, tôi nhớ,
Bà tôi trách Mỵ Nương:
Người đẹp thì có đẹp,
Nhưng tâm, cũng bình
thường.
Chàng Trương Chi tội
nghiệp,
Lại đem lòng yêu nàng,
Và chàng hát, cứ hát
Giữa dòng sông mênh
mang.
Cuối cùng, vì đau khổ,
Vì yêu và thất tình,
Môt đêm mưa, trời tối,
Chàng trẫm mình, quyên
sinh.
Xác chàng chìm xuống
nước,
Nhưng từ đó nổi lên
Một hình cầu trong
suốt,
Lung linh như ánh đèn.
Bố Mỵ Nương nhặt được,
Cho mời thợ kim hoàn
Đẽo gọt thành chiếc
chén
Đặt nhẹ nó lên bàn.
Khi rót trà vào chén,
Mỵ Nương bỗng giật
mình:
Dưới đáy chén nàng
thấy
Hình Trương Chi lung
linh.
Nhớ chuyện xưa, nàng
khóc,
Ôm chiếc chén, và rồi
Một giọt lệ rơi xuống,
Chiếc chén vỡ làm đôi.
Nghe có vẻ cảm dộng,
Nhưng tôi chẳng thương
nàng.
Bà tôi xưa cũng vậy.
Ôi, con người đa mang.
TRUYỆN THẠCH SANH
1
Ngày xưa, ở làng nọ
Có người tên Thạch
Sanh,
Một chàng trai khỏe
mạnh
Dũng cảm và hiền lành.
Hai bố mẹ chết sớm,
Chàng sống dưới gốc đa
Trong túp lều bé nhỏ,
Bên rìa khu rừng già.
Gia tài chàng chỉ có
Một chiếc khố che thân
Và chiếc rìu đốn củi
Để hàng ngày kiếm ăn.
Năm lên mười ba tuổi,
Ngọc Hoàng sai người
trời
Dạy chàng mọi phép
thuật
Và món võ trên đời.
Gần nơi chàng đang
sống,
Chỉ cách một cánh
đồng,
Có anh chàng bán rượu
Tên gọi là Lý Thông.
Hắn là người độc ác,
Một hôm nhân đi ngang,
Thấy Thạch Sanh khỏe
mạnh,
Xin kết nghĩa với
chàng.
Vốn cả tin, chân thật,
Chàng Thạch Sanh tài
ba
Theo Lý Thông về sống
Như anh em một nhà.
2
Trong rừng có con rắn
Thành tinh từ bao giờ,
Gây rất nhiều tai họa,
Vua phải lập miếu thờ.
Hàng năm nó bắt nộp
Một mạng người mới
xong.
Không may vào năm ấy
Người đó là Lý Thông.
Hai mẹ con họ Lý
Bèn đánh tráo Thạch
Sanh,
Bảo Lý Thông bận việc,
Nhờ lên miếu thay anh.
Chàng giết chết thần
rắn,
Rồi mang đầu về nhà.
Lý Thông nhìn cả sợ,
Nhưng nảy ý gian tà.
Hắn bảo con rắn ấy
Là của vua, rắn thần,
Nay không may giết
chết,
Sẽ khó bề yên thân
Hắn khuyên chàng bỏ
trốn
Thật sâu trong rừng
dày.
Còn mọi chuyện để đấy
Hắn liệu bề lo thay.
Rồi hắn mang đầu rắn
Tới gặp vua, và ngài
Cho hắn làm tể tướng
Cùng bổng lộc, tiền
tài.
3
Quỳnh Nga, công chúa
út,
Vừa đến tuổi lấy
chồng.
Vua cho kén phò mã,
Mãi không ai vừa lòng.
Một hôm nàng đi dạo
Cùng mấy cô nữ tì,
Có con chim cực lớn
Sà xuống, bắt nàng đi.
Đó là Đại Bàng Cụ,
Tu lâu ngày thành
tinh.
Hắn bắt nàng công chúa
Về hang làm vợ mình.
Chàng Thạch Sanh lúc
ấy
Đứng trong rừng, nhìn
lên,
Thấy người bị chim bắt
Liền vội lấy cung tên,
Bắn một phát trúng
cánh,
Nhưng con chim ngoái
đầu,
Rút tên vứt xuống đất,
Để máu nhỏ đằng sau.
Lần theo vết máu ấy
Chàng đi theo đại
bàng,
Đi, đi mãi, đi mãi
Cuối cùng đến cái
hang.
Hang nằm giữa núi đá,
Được cây che bốn bề.
Thạch Sanh liền đánh
dấu
Rồi lên đường quay về.
Khi hay tin công chúa
Bị chim bắt, đau lòng,
Vua cho người lập tức
Mời tể tướng Lý Thông.
Vua sai quan tể tướng
Phải tìm nàng về ngay,
Hứa cho làm phò mã
Và nhường ngôi sau
này.
Vừa mừng vừa lo sợ,
Trong mười ngày, Lý
Thông
Cho mở hội hát xướng
Để thu hút đám đông.
Hắn sai quân lén lút
Nghe xem có người nào
Biết tin về công chúa,
Ở đâu và ra sao.
Khoảng đến ngày thứ
chín,
Thạch Sanh cũng tìm
về.
Lý Thông gặp, mừng rỡ,
Tâm sự hết mọi bề.
Chàng thật thà kể hết
Chuyện thấy chim đại
bàng,
Rồi bắn chim chảy máu,
Rồi theo về tận hang.
Lý Thông liền vội vã
Nhờ Thạch Sanh đi đầu
Tới hang cứu công
chúa,
Hang rất hẹp và sâu.
Thạch Sanh không ngần
ngại
Một mình chui xuống
hang.
Chàng tìm thấy công
chúa,
Và giết chết đại bàng.
Khi cứu được công
chúa,
Ra khỏi hang, tức thì
Lý Thông cho lấy đá
Lấp hang rồi bỏ đi.
Bị kẹt ở phía dưới,
Thạch Sanh tìm đường
lên,
Chợt thấy có chiếc cũi
Giam một chàng thanh
niên.
Đó là chàng Thái tử
Con Thủy Tề, lâu nay
Bị Đại bằng bắt giữ
Giam cầm ở nơi này.
Thạch Sanh lấy nỏ bạc
Cùng mũi tên bằng vàng
Bắn vỡ tan chiếc cũi
Và giải phóng cho
chàng.
Rồi chàng theo Thái Tử
Xuống thủy cung, vua
cha
Đón tiếp chàng nồng
hậu,
Còn tặng rất nhiều
quà.
Chàng từ chối vàng
bạc,
Chỉ nhận một chiếc đàn
Rồi nói lời từ biệt,
Quay trở lại trần
gian.
Từ đấy chàng lại sống
Thảnh thơi trong túp
lều
Bên gốc cây đa cổ,
Đốn củi sáng lại
chiều.
4
Lại nói hồn thần rắn
Và hồn chim đại bàng
Gặp nhau, liền lén lút
Tìm cách hãm hại
chàng.
Chúng lấy trộm vàng
bạc
Ném vào lều Thạch
Sanh,
Thế là chàng bị bắt
Vì chứng cớ rành rành.
Kể từ ngày được cứu,
Không ai hiểu vì sao
Nàng công chúa xinh
đẹp
Không nói một lời nào.
Vua đau buồn, ra lệnh
Lập đàn cầu ngày đêm,
Cho mời thầy chữa trị,
Nhưng bệnh càng nặng
thêm.
Thạch Sanh ngồi trong
ngục
Cảm thấy buồn, và
chàng
Bèn đem đàn ra gảy,
Những tiếng đàn tính
tang.
Đây là chiếc đàn ngọc
Quà của vua Thủy Tề,
Chàng vừa bắt đầu gảy,
Tiếng đàn liền tỉ tê
Kể hết mọi tội ác
Của tể tướng Lý Thông.
Nó còn trách công chúa
Bằng những tiếng não
lòng.
Quỳnh Nga nghe, lập
tức,
Vẻ buồn bã tiêu tan.
Và nàng lại cười nói,
Cho gọi người đánh
đàn.
Trước vua và công
chúa,
Thạch Sanh kể về mình,
Việc chàng chém thần
rắn,
Giết đại bàng - yêu
tinh.
Cả việc cứu công chúa,
Bị bỏ lại dưới hang
Và cả chiếc đàn ngọc
Vua Thủy Tề tặng
chàng.
Vua hạ lệnh tống ngục
Hai mẹ con Lý Thông,
Cho Thạch Sanh được
quyết
Tha hoặc giết mặc
lòng.
Thạch Sanh tha không
giết.
Nhưng trên đường về
nhà
Chúng bị sét đánh chết
-
Người tha, trời không
tha.
5
Tiếp đến là lễ cưới
Giữa chàng và Quỳnh
Nga,
Vua cho mở đại tiệc,
Vui mọi nơi, mọi nhà.
Nghe tin này, thái tử
Mười tám nước chư hầu
Liền kéo quân đến đánh
Vì trước đó không lâu
Họ bị vua từ chối
Không gả con cho mình,
Nay lại gả công chúa
Cho một thằng vô danh.
Trên thành cao, điềm
tĩnh,
Thạch Sanh ngồi gẩy
đàn.
Tiếng đàn nghe khoan
nhặt,
Như gió thổi, mây an.
Đàn tỉ tê, thỏ thẻ
Về nỗi nhớ quê nhà,
Về vợ con, đồng ruộng,
Về nỗi khổ can qua.
Binh lính mười tám
nước,
Nghe mà buồn tái tê
Không còn muốn chiến
đấu
Nhất loạt đòi quay về.
Binh lính mười tám
nước
Được chàng đãi no say
Bằng niêu cơm bé nhỏ
Ăn mãi vẫn còn đầy.
Vua hoan hỉ làm lễ
Nhường ngôi báu cho
chàng.
Thạch Sanh cho giảm
thuế,
Hòa hoãn với lân bang.
Chàng tha cho tội
phạm,
Khuyến khích công,
thương, nông.
Mọi người sống no đủ,
Ai cũng thấy hài lòng.
TRUYỆN TẤM CÁM
1
Xưa có một cô bé,
Đẹp và rất có duyên.
Tên của cô là Tấm,
Một cái tên thật hiền.
Không may mẹ chết sớm,
Bố cô, lại không may,
Lấy thêm bà vợ nữa.
Đời cô khổ từ đây.
Rồi bố cô cũng chết,
Để lại cô trên đời
Với một bà mẹ ghẻ
Độc ác và khác người.
Bà này có cô Cám,
Là con riêng của bà.
Cũng trạc tuổi như
Tấm,
Nhưng lười và chua
ngoa.
Cảnh con chồng dì ghẻ
Đời nào cũng giống
nhau.
Tấm thì luôn vất vả,
Làm việc nhà, chăn
trâu.
Cám thì được chiều chuộng,
Chẳng động tay việc
gì.
Chỉ biết ăn rồi uống,
Đi chơi rồi ngủ khì.
Một hôm, dì ghẻ bảo:
Cả hai đứa ra ao,
Cố bắt thật nhiều cá
Đem về đây cho tao.
Vốn chăm chỉ, cô Tấm,
Cứ mò bắt luôn tay.
Cuối buổi nhìn, cô
thấy
Giỏ cá đã sắp đầy.
Trong khi đó cô Cám,
Vì lười, vì vụng về,
Nên chiếc giỏ rống
rỗng,
Lại sắp đến lúc về,
Nên nhân lúc cô Tấm
Rửa tay bên ao đình,
Cô Cám lấy hết cá
Đổ sang giỏ của mình.
Quay lại, thấy mất cá
Cô Tấm không dám về
Vì sợ mẹ kế đánh,
Khóc, nước mắt dầm dề.
Bỗng có một ông Bụt
Râu trắng, mặt đỏ
hồng:
“Cháu nhìn xem trong
giỏ
Còn con cá nào không?”
Cô đáp: “Còn con
bống.”
Ông Bụt cười, ân cần:
“Cháu thả nó xuống
giếng,
Nhớ hàng ngày cho ăn.”
Nghe lời Bụt, từ đấy
Đứng bên giếng hàng
ngày,
Cho cá ăn, cô Tấm
Gọi cá lên thế này:
“Bống bống bang bang,
bống,
Lên mà ăn cơm vàng.
Đừng ăn cơm người
khác,
Bang bang, bống bống,
bang!”
Hai mẹ con cô Cám
Nhìn thấy thế sinh
nghi,
Nên rình xem cô Tấm
Đang nói gì, làm gì.
Một hôm bà mẹ kế
Sai cô Tấm đi xa.
Rồi mụ bắt con bống,
Ăn, quẳng xương cho
gà.
Về, gọi bống không
thấy,
Tấm lại khóc, tức thì
Ông Bụt kia tốt bụng
Hiện lên, hỏi chuyện
gì.
Nghe Tấm nói, ông Bụt
Bảo: “Cháu lấy ít
xương
Còn sót lại của bống,
Đem chôn ở chân
giường”.
2
Năm ấy vua mở hội,
Loan báo khắp đông
tây.
Hai mẹ con nhà Cám
Chuẩn bị suốt mấy
ngày.
Như các cô gái khác,
Cô Tấm cũng muốn đi.
Tiếc là cô nghèo đói,
Quần áo chẳng có gì.
Hơn thế, bà mẹ kế
Trộn đầy cả một nong
Thóc và gạo lẫn lộn,
Bảo cô phải nhặt xong.
Cô Tấm ôm mặt khóc.
Ông Bụt hiện ra ngay.
Ông gọi bầy chim sẻ
Đến giúp cô việc này.
Chỉ một loáng, thóc,
gạo
Được tách thành hai
bên.
“Giờ thì lọ xương cá,
Cháu hãy đào lấy lên.”
Cô làm theo lời Bụt.
Trong chiếc lọ - lạ
thay,
Có đủ quần áo đẹp,
Còn thêm một đôi giày.
Lại có cả con ngựa,
Bé xíu, thật dễ
thương.
Lập tức nó to lớn,
Đủ hàm thiếc, yên
cương.
Cô Tấm liền tắm rửa,
Thay quần áo, đi giày.
Tất cả đều vừa khít,
Lên ngựa, phóng như
bay.
Khi đi ngang vũng
nước,
Một chiếc giày của cô
Bị rơi, không kịp
nhặt.
Rồi cô tới kinh đô.
Xe của vua lúc ấy
Đi qua vũng nước này.
Con voi không chịu
bước
Thúc mấy cũng đứng
ngây.
Vua thấy lạ, sai lính
Xuống tìm hiểu sự
tình.
Cuối cùng chúng tìm
thấy
Một chiếc giày thật
xinh.
Thật xinh và thật bé.
Vua nhìn nó, băn
khoăn:
“Ai nhỉ? Ai đi nó
Chắc phải đẹp tuyệt
trần.”
Rồi vua cho thông báo:
“Ai đi vừa giày này
Sẽ trở thành hoàng
hậu.
Mời mọi người thử
ngay!”
Vậy là chen nhau thử.
Ôi, các bà, các cô.
Ai cũng háo hức thử,
Nhưng chân họ quá to.
Cả mẹ con cô Cám
Cũng nhất quyết không
thua.
Tiếc là họ thử mãi
Mà không thành vợ vua.
Đến lượt cô Tấm thử,
Thật nhẹ nhàng, lạ
chưa -
Cả vua quan trố mắt -
Chân cô đi rất vừa.
Vua sai đoàn thị nữ
Rước cô Tấm vào cung,
Tấn phong làm hoàng
hậu,
Hạnh phúc đến tột
cùng.
3
Sống trong cung sung
sướng,
Nhưng đến ngày giỗ cha,
Là người con có hiếu,
Cô xin về thăm nhà.
Mẹ ghẻ và cô Cám
Thấy Tấm giờ cao sang,
Thì vô cùng khó chịu,
Thầm ghen ghét với
nàng.
Mụ mẹ bảo con gái:
“Đừng lo, từ hôm nay
Con sẽ là hoàng hậu,
Thay cho con ranh
này!”
Mụ mẹ kế ngon ngọt,
Bảo cô Tấm: “Bố con
Xưa thích ăn trầu lắm,
Nay nhà cau không còn,
Vậy giờ con chịu khó
Leo lên cây cau cong,
Hái một buồng cúng bố
Cho bố con vui lòng.
Vì thương cha, cô Tấm
Vội leo lên hái cau.
Mụ dì ghẻ chặt gốc,
Cô ngã, chết, dập đầu.
Mụ thay áo cho Cám
Rồi đưa lên kinh
thành,
Nói cô chị chết đuối,
Giờ em thay chị mình.
Vua nghe, không vui
lắm,
Cũng thấy hơi lạ lùng,
Nhưng vốn yêu thương
Tấm,
Nên cho Cám vào cung.
Lại nói cô Tấm chết,
Hóa thành chim vàng
anh.
Vua đâu, nó bay đấy,
Líu ríu khắp cung
thành.
Một hôm, thấy cô Cám
Phơi áo vua bên ao,
Nó nói: “Phơi cẩn
thận,
Kẻo rách áo chồng tao.”
Vua nghe, liền bảo nó:
“Này, vàng anh, vàng
anh,
Hãy chui vào ống áo,
Nếu em là vợ anh.”
Con chim chui vào áo.
Từ đó vua ngày đêm
Chỉ vui chơi với nó,
Không đoái hoài cô em.
Cô em, tức cô Cám,
Rất tức giận, thế là
Bắt vàng anh làm thịt,
Lông thì vứt sau nhà.
Chỗ lông chim bị vứt,
Liền mọc một cây xoan,
Che cho vua nghỉ mát,
Đọc sách lúc thư nhàn.
Cô Cám liền cho chặt,
Đốt cả cây lẫn cành,
Rồi đem tro của nó
Ra đổ ngoài cổng
thành.
Chỗ ấy mọc cây thị,
Lớn rất nhanh hàng
ngày,
Đến mùa đậu một quả,
Chỉ một quả trên cây.
Có bà lão bán nước,
Nhân có việc đi ngang,
Liền giơ bị và nói
Với quả thị chín vàng:
“Thị ơi, hãy rụng
xuống,
Rụng xuống bị của bà.
Bà không ăn, chỉ ngửi,
Rồi bà đem về nhà.”
Quả nhiên thị rụng
xuống.
Bà đem cất, hàng ngày
Lấy ra ngửi và ngắm,
Rồi mân mê trên tay.
Một hôm bà đi vắng
Lúc quay về, bất ngờ
Thấy nhà cửa sạch sẽ,
Cơm nấu sẵn đang chờ.
Ai thế nhỉ, thật lạ?
Bà tự thầm hỏi mình.
Những ngày tiếp cũng
thế,
Rồi bà quyết định
rình.
Thì ra một cô gái
Từ quả thị chui ra.
Cô đảm đang lo liệu
Hết mọi việc trong
nhà.
Đó chính là cô Tấm.
Bà ôm chặt, không
buông.
Từ đây hai bà cháu
Sống chung nhà, chung
buồng.
Bà ngồi quán bán nước,
Cô Tấm lo têm trầu.
Trầu cô têm thật đẹp,
Miếng nào cũng đều
nhau.
Một hôm, vua đi dạo,
Mà lòng buồn, buồn
sao.
Khi đi ngang quán
nước,
Vua khát, liền ghé
vào.
Khi ăn trầu, uống
nước,
Vua ngạc nhiên hỏi bà:
“Ai têm trầu đẹp thế?”
Bà dẫn Tấm đi ra.
Thế là vua gặp lại
Người vợ cũ của mình.
Ngài rơm rớm nước mắt
Nghe vợ kể sự tình.
Vua nghe xong, tức
giận
Truyền quân lính ra đi
Bắt mẹ con cô Cám
Để trị tội tức thì.
Vốn là người nhân hậu,
Lại xét tình người
nhà,
Cô Tấm xin nương nhẹ,
Nên cuối cùng vua tha.
Thế là chúng thoát
chết,
Bị đuổi đi, dọc đường
Chúng bị hổ ăn thịt,
Mà không ai xót
thương.
BÀ CHÚA LIỄU HẠNH
1
Xưa, vào năm Thiên
Hựu,
Đời vua Lê Thánh Tông,
Có một người phụ nữ,
Vợ của Lê Thái Công.
Bà ở làng Vân Cát,
Huyện Vụ Bản ngày nay,
Có thai, thai đã lớn,
Sinh nở cũng gần ngày.
Thế mà ốm ngặt nghẽo,
Chạy chữa chẳng ích
gì.
Hai vợ chồng buồn lắm,
Thành bán tín, bán
nghi.
Một hôm có đạo sĩ
Tự nhiên đến nhà chơi.
Rồi niệm chú, làm
phép,
Đưa Thái Công lên
trời.
Chủ nhà được mời dự
Một bữa tiệc thiên
đình
Do Ngọc Hoàng khoản
đãi,
Nhiều tiên nữ rất
xinh.
Bỗng một nàng sơ ý
Làm chén ngọc vỡ tan,
Ngọc Hoàng giận, ra
lệnh
Đầy nàng xuống trần
gian.
Ông chủ nhà tỉnh dậy,
Thấy đang ở nhà mình,
Đúng lúc vợ sinh hạ
Một cô bé rất xinh.
Hai vợ chồng sung
sướng
Đặt tên là Giáng Tiên.
Nàng lớn lên, xinh
đẹp,
Thông minh và dịu
hiền.
Nàng rất giỏi đàn sáo,
Và am hiểu văn chương,
Lại nết na, hiếu thảo,
Mọi cái đều tinh
tường.
Đúng năm mười sáu tuổi
Nàng lấy chàng Đào
Lang,
Con vị quan trí sĩ,
Cùng quê và cùng làng.
Sống với nhau hạnh
phúc
Mới chỉ được ba năm
Thì bỗng nhiên nàng
chết,
Đúng tháng Ba, ngày
rằm.
2
Nàng bay lên thượng
giới,
Nhưng Ngọc Hoàng, tiếc
thay,
Lại bắt xuống hạ giới
Vì chưa hết hạn đày.
Lần này cùng bay xuống
Nàng có thêm bạn đường
Là hai nàng tiên nữ -
Quế Nương và Thị
Nương.
Và rồi nàng, y lệnh,
Đến một nơi, bây giờ
Thuộc Phố Cát, Thanh
Hóa,
Có cảnh đẹp nên thơ.
Nàng du ngoạn đây đó,
Chuyên làm điều tốt
lành.
Giúp những người đói
khổ,
Giúp đồng ruộng tươi
xanh.
Biết ơn, dân sở tại
Bèn cho lập đền thờ
Thờ Công Chúa Liễu
Hạnh,
Vẫn còn đến bây giờ.
Danh tiếng nàng từ đấy
Cứ lan dần, lan dần.
Rồi triều đình phong
tặng
Làm “Thượng Đẳng Phúc
Thần.”
Khi còn ở hạ giới,
Nàng ngao du nhiều
nơi,
Nhất là ở xứ Lạng,
Trò chuyện với nhiều
người.
Tương truyền nàng từng
gặp
Danh sĩ Phùng Khắc
Khoan,
Rồi cùng ông đàm đạo
Văn thơ và chơi đàn.
3
Nghe người ta kể lại,
Vào cuối đời Hậu Lê
Có ông quan già lão
Khi nghỉ trưa bên hè,
Đã tận mắt nhìn thấy
Công chúa bay lên trời
Cùng hai nghìn tiên
nữ,
Mây ngũ sắc sáng ngời.
Nghĩa là nàng hết hạn,
Nay trở lại thiên
đình.
Trong tiếng nhạc rộn
rã
Đang tấu, đưa tiễn
mình.
Nàng ra đi, tuy thế,
Lòng vẫn ở với đời,
Trong tín ngưỡng văn
hóa,
Trong cả trái tim
người
Nhiều nơi lập đền,
miếu.
Nhớ ơn nàng, nhân dân
Gọi nàng là Bà Chúa,
Một “Thượng Đẳng Phúc Thần.”
CHÚA CHỔM
Chuyện kể rằng, ngày
ấy,
Khi thọ địch bốn bề,
Mạc Đăng Dung thâu tóm
Quyền lực của nhà Lê.
Vua bị ông khống chế,
Rồi bị giam xà lim.
Quan trong triều vì
sợ,
Nên cũng đành lặng im.
Có một cô bán rượu,
Trẻ trung, con nhà
lành,
Thường đem rượu đến
bán
Cho mấy chàng lính
canh.
Một hôm cô chợt thấy
Có thêm một tù nhân
Da dẻ rất trắng trẻo,
Dáng điệu rất vương
thần.
Hỏi ra thì mới biết
Đó chính là vua Lê,
Nay lỡ vận, phải chịu
Cảnh tù giam ê chề.
Cô động lòng trắc ẩn,
Bèn tìm cách làm quen,
Cho vua uống thả sức
Mà không hề lấy tiền.
Lâu ngày lửa cũng bén
Giữa vua và cô này.
Một lần cô chuốc rượu
Cho lính canh uống say
Rồi vào ngục tình tự
Với đức vua của mình.
Về sau cô sinh hạ
Một cậu bé rất xinh.
Trước khi vua bị giết,
Ngài trao ấn cho cô,
Dặn mai sau con lớn,
Lo lấy lại cơ đồ.
2
Bỏ nghề, cô bán rượu
Đi nơi khác làm ăn,
Đặt tên con là Chổm,
Cam chịu cảnh thanh
bần.
Lớn lên, cậu bé Chổm
Được mẹ cho vào chùa.
Cậu thông tuệ, học
giỏi,
Thích chơi trò làm vua.
Nhưng cậu này rất
nghịch,
Bị sư cụ Thạch Toàn
Đánh nhiều mà dạy ít,
Nhưng cậu chẳng thành
ngoan.
Một hôm cậu hỏi mẹ,
Bố của cậu là ai?
Cậu muốn biết điều ấy.
Nhưng mẹ cậu thở dài:
“Bố con hổ vồ chết,
Còn họ là họ Lê.
Mẹ cố nuôi con lớn,
Tuy khổ cực trăm bề.”
Chổm nghe, dẫu còn
nhỏ,
Rất đau buồn, thế là
Cậu quyết tâm giết hổ
Để báo thù cho cha.
Trong rừng, một lần
nọ,
Thấy hổ con ngủ say,
Cậu lấy đá đập chết,
Bỗng mẹ con hổ này
Liền nhảy ra vồ cậu,
May có một ông già
Múa gậy, đánh nó chết,
Rồi trước lúc đi xa
Ông tặng Chổm chiếc
gậy,
Giảng dạy rất ân cần
Một vài đường quyền
hiểm,
Gọi là để phòng thân.
Cũng bằng chiếc gậy
ấy,
Chổm giết con xà tinh
Giúp cho dân trong xứ
Được sinh sống yên
bình.
Hai mẹ con nhà Chổm
Lại quay về làng xưa.
Cậu kiếm củi nuôi mẹ
Và thường đến ăn trưa
Ở các quán gần đó.
Có điều không có tiền,
Nên cậu phải ghi nơ,
Mà nợ nhiều, tất nhiên.
Nợ đến mức thành chúa,
Và cứ thế dần dần
Cậu trở thành Chúa
Chổm,
Một con nợ quen thân.
Ai đòi, cậu cũng nói:
“Ấy, cứ chờ, không
sao.
Sau thành vua, tôi trả
Không thiếu một xu
nào.”
3
Nguyễn Kim là tướng
giỏi
Của triều Lê trước
đây,
Trốn sang Lào lánh nạn
Và được vua nước này
Cho mượn một vùng đất
Có tên là Sầm Châu
Để dấy binh khởi
nghĩa,
Lo sự nghiệp dài lâu.
Nhằm thu phục dân chúng
Ông rất cần một người
Của nhà Lê ngày trước,
Rồi đi tìm khắp nơi.
Nhưng tìm mãi không
thấy,
Nhờ báo mộng, may sao,
Ông tìm được Chúa Chổm,
Bèn đưa ngay sang Lào.
Thế là từ đấy Chổm
Nghiễm nhiên thành vua
Lê.
Rồi Nguyễn Kim chiến
thắng,
Rồi xe ngựa quay về.
Khi đi ngang quê cũ,
Một số người nhìn vua,
Thấy quen quen, và họ
Liền nhận ra người
xưa.
Thế là nhiều chủ nợ
Đến đòi nợ của mình.
Họ còn theo xa giá
Lên tới tận kinh
thành.
“Chúa Chổm, nào Chúa
Chổm,
Hãy trả nợ cho tôi.”
Quân lính thấy sự láo
Liền vội vã ra roi.
Nhưng đức vua, con nợ,
Bèn kể rõ sự tình,
Rồi ngài cho trả hết,
Không thiếu một đồng
chinh.
Khốn nỗi, đường thì
chật,
Mà chủ nợ quá đông,
Ngài vung tay ném
xuống
Một trận mưa tiền
đồng.
Hãi hùng cảnh chen
lấn,
Cảnh tranh nhau dành
tiền.
Nhiều người giơ tay
chỉ,
Gọi vua đúng theo tên.
Đến nỗi quan hộ giám
Phải ra lệnh như sau:
“Cấm chỉ! Không được
chỉ!
Ai chỉ sẽ mất đầu!”
Nơi ấy giờ là phố
Còn mang cái tên này.
Tức là phố Cấm Chỉ,
Một cái tên thật hay.
Nó ở quận Hòa Kiếm,
Gần phố Tống Duy Tân,
Như thời vua nghèo
khổ,
Nó là phố hàng ăn.
Tiếc là giờ ở đấy
Người ta vẫn chỉ nhau,
Chủ quán không cho nợ,
Khách nghèo lẫn khách
giàu.
Tiếc nữa là Chúa Chổm
Thành cái tên trêu đùa
Của nhiều người mắc nợ
Nhưng không hề thành vua.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét